Posted in

Cảnh giác với 6 triệu chứng ở độ tuổi trung niên có thể dự báo chứng sa sút trí tuệ sau này

Từ lâu, các nhà khoa học đã biết đến mối liên hệ giữa trầm cảm và chứng sa sút trí tuệ (dementia).

Giờ đây, một nghiên cứu mới đã chỉ ra 6 triệu chứng trầm cảm xuất hiện ở tuổi trung niên có thể dự đoán nguy cơ mắc sa sút trí tuệ hơn 20 năm sau đó.

Các chẩn đoán sa sút trí tuệ được dự báo sẽ tăng vọt trong những năm tới. Nếu không có biện pháp can thiệp đáng kể, số ca mắc mới có thể chạm mốc 1 triệu ca mỗi năm vào năm 2060.

Trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Lancet Psychiatry đầu tháng 12, các nhà khoa học từ University College London đã phân tích dữ liệu của 5.811 người trung niên, phần lớn là nam giới và người da trắng.

Những người tham gia nghiên cứu được phân loại là bị trầm cảm ở độ tuổi trung niên có nguy cơ mắc chứng sa sút trí tuệ cao hơn 27%.

Các triệu chứng trầm cảm được ghi nhận thông qua bảng câu hỏi khi những người tham gia chưa mắc sa sút trí tuệ và ở độ tuổi từ 45 đến 69. Sau đó, tình trạng sức khỏe của họ được theo dõi trong 25 năm tiếp theo.

Trong thời gian theo dõi, 10% số người tham gia phát triển chứng sa sút trí tuệ. Phân tích sâu hơn cho thấy những người được phân loại là trầm cảm ở tuổi trung niên có nguy cơ mắc sa sút trí tuệ cao hơn 27%.

Đáng chú ý, các nhà nghiên cứu phát hiện rằng mức tăng nguy cơ này hoàn toàn đến từ sáu triệu chứng cụ thể ở những người dưới 60 tuổi.

Sáu triệu chứng đó bao gồm:

  • Mất tự tin
  • Không có khả năng đối diện và giải quyết vấn đề
  • Không cảm nhận được sự ấm áp và gắn bó với người khác
  • Cảm giác căng thẳng, lo âu như “dây thần kinh bị kéo căng”
  • Không hài lòng với cách bản thân hoàn thành công việc
  • Khó tập trung

Đặc biệt, mất tự tin và khó khăn trong việc đối phó với vấn đề mỗi triệu chứng đều liên quan đến mức tăng 50% nguy cơ mắc sa sút trí tuệ.

Ngược lại, các triệu chứng trầm cảm khác như tâm trạng buồn bã kéo dài, ý nghĩ tự tử hay rối loạn giấc ngủ lại không cho thấy mối liên hệ lâu dài, đáng kể với sa sút trí tuệ.

“Phát hiện của chúng tôi cho thấy nguy cơ sa sút trí tuệ liên quan đến một nhóm nhỏ triệu chứng trầm cảm, chứ không phải trầm cảm nói chung. Cách tiếp cận theo từng triệu chứng giúp chúng ta nhìn rõ hơn ai là người dễ tổn thương từ nhiều thập kỷ trước khi sa sút trí tuệ xuất hiện”, Philipp Frank, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.

Nhóm nghiên cứu cũng lưu ý rằng các triệu chứng như mất tự tin, khó đối phó với vấn đề và kém tập trung có thể dẫn đến cô lập xã hội và giảm các hoạt động kích thích trí não – hai yếu tố làm suy giảm khả năng “chống chịu nhận thức” của não bộ.

Các nhà khoa học cho rằng việc tập trung điều trị sáu triệu chứng then chốt này ở tuổi trung niên có thể giúp giảm nguy cơ sa sút trí tuệ trong tương lai.

“Những triệu chứng thường ngày mà nhiều người gặp phải ở tuổi trung niên dường như mang thông tin quan trọng về sức khỏe não bộ lâu dài. Việc chú ý đến những dấu hiệu này có thể mở ra cơ hội mới cho phòng ngừa sớm”, Frank nói thêm.

Tác động của sa sút trí tuệ không chỉ dừng lại ở suy giảm nhận thức, mà còn làm tăng nguy cơ mắc nhiều vấn đề sức khỏe khác như nhiễm trùng, té ngã nghiêm trọng, bệnh tim mạch, suy dinh dưỡng và chính trầm cảm.

“Đây là một cách tiếp cận mới và quan trọng trong việc nhìn nhận mối liên hệ giữa trầm cảm và sa sút trí tuệ, đồng thời là bằng chứng cho thấy trầm cảm là một khái niệm rất rộng, không nhất thiết chỉ là một bệnh duy nhất”, Gill Livingston, đồng tác giả nghiên cứu và Chủ tịch Ủy ban Lancet về phòng ngừa sa sút trí tuệ, nhận định.

“Hiện có một số bằng chứng hạn chế cho thấy việc điều trị trầm cảm ở tuổi trung niên có thể làm giảm nguy cơ sa sút trí tuệ sau này, nhưng vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ cách giảm thiểu nguy cơ này hiệu quả nhất”.

Nhóm nghiên cứu cũng thừa nhận những hạn chế của công trình, bao gồm việc cần thêm nghiên cứu để xác định liệu sáu triệu chứng này có áp dụng tương tự cho phụ nữ và các nhóm sắc tộc khác hay không.

Hiện nay, chưa có phương pháp chữa khỏi hoàn toàn sa sút trí tuệ, nhưng các liệu pháp và điều trị có thể giúp kiểm soát triệu chứng và làm chậm tiến triển của bệnh.

Theo New York Post

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *